|
Welcome,
Guest
|
- Page:
- 1
TOPIC: ĐIỂM QUA CÁC NÉT CHÍNH VỀ GẠO
ĐIỂM QUA CÁC NÉT CHÍNH VỀ GẠO 12 years 11 months ago #101
|
Điểm qua các nét chánh về gạo
Bài này trích đăng từ diễn đàn Thụ Nhân của hội cựu sinh viên Dalat Bạn Pham Văn Bân tốt nghiệp khoá 7 Chính Trị Kinh Doanh Tác giả thông thạo Anh ngữ, Pháp ngữ và Hoa ngữ Bạn bè thuờng khen tặng là nhà biên khảo Hân hạnh đuợc bài viết này mở đầu cho mục biên khảo của MỏCày Quê Tôi Cám ơn bạn Phạm Văn Bân Phạm Văn Bân Ngày 23-4-2008, trong bản tin Mart's Sam's Club limits rice purchases, hãng Reuters thông báo Wal-Mart Stores Inc's Sam's Club, hiệp hội kho hàng lớn thứ nhì nước Mỹ, đang hạn chế bán ra vài loại gạo cho thấy dấu hiệu e ngại thiếu hụt gạo đang "gợn sóng" khắp nơi trên thế giới. Sam's Club cho biết họ hạn chế bán loại gạo Jasmine, Basmati và gạo trắng hạt dài "do khuynh hướng cung cầu mới đây." Sam's Club hiện chỉ bán bốn bao gạo cho mỗi khách hàng/mỗi lần đến mua (một bao nặng 20-pound, tức 9 kg), và cũng đang sắp xếp với các nhà cung cấp để bảo đảm có đủ gạo trong kho. Ngày 22-4-2008, Costco Wholesale Corp, hiệp hội kho hàng lớn nhất nước Mỹ, cho biết sức cầu về gạo và bột đã gia tăng vì khách hàng mua để tích trữ trong nỗi lo sợ trước tình trạng thiếu hụt thực phẩm có tính chất toàn cầu và giá gạo đã tăng lên. Vài kho hàng Costco đã giới hạn số bán về gạo và bột. Giám Đốc Điều Hành Costco James Sinegal nói với Reuters ông tin rằng sự gia tăng nhu cầu mới đây là hậu quả của các báo cáo về việc gia tăng nhu cầu trên thế giới và về sự thiếu hụt các loại thực phẩm căn bản tại vài nước. Giá thực phẩm đã gia tăng khắp nơi trên thế giới, được thúc đẩy bởi sức cầu gia tăng từ Trung quốc và Ấn Độ, giá dầu hỏa cao và các lời đồn đải trên thị trường. Tình trạng này dẫn tới vài vụ trấn áp tại các nước Phi châu, Indonesia, và Haiti. Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon khuyến cáo rằng giá thực phẩm lên cao sẽ có thể gây tổn hại cho an ninh và phát triển toàn cầu. Giá gạo đã tăng 68% kể từ đầu năm 2008. Ấn Độ và Việt Nam đã ban hành lệnh cấm xuất cảng gạo, với hy vọng làm dịu giá gạo trong nước. Ngày 22-4-2008, Tim Johnson, Chủ Tịch-CEO của Ủy Ban Gạo California (California Rice Commission), đại diện cho các nhà nông và xay lúa của tiểu bang, nói: "Sau hết sẽ không có sự thiếu hụt gạo ở Mỹ. Chúng ta có sức cung." Ngày 23-4-2008, trong bản tin Sam's Club, Costco Limit Rice Sales, hãng Associated Press thông báo phát ngôn viên Hiệp Hội Gạo Mỹ (USA Rice Federation) David Coia nói rằng không có thiếu hụt gạo ở Mỹ và việc giới hạn số gạo được mua là vì "Có thể do các nhà hàng và cửa tiệm nhỏ mua nhiều gạo hơn lúc bình thường để tránh giá gạo tăng cao hơn." Tại thành phố New York, chủ tiệm Tom Pongsopon của Bangkok Center Grocery, một trong các nhà cung cấp thực phẩm Thái, cho biết giá một bao gạo Jasmine 25-pound ở tiệm ông đã tăng từ $15 lên $20 chỉ trong vài tháng. Tính đến nay, sức cầu liên tục và mức thu hoạch gạo yếu kém đã đẩy giá gạo lên 70%, gây ra mối lo ngại thiếu hụt nghiêm trọng cho gạo, một loại thực phẩm chủ yếu (staple food) được tiêu thụ bởi hơn một nửa dân số thế giới. Trong khuynh hướng giá thực phẩm tăng, việc Ấn Độ và Việt Nam giảm bớt xuất cảng gạo để ổn định giá gạo trong nước đã khiến giá gạo tăng thêm tại Mỹ. Mặt khác, vì người tiêu thụ Á Đông có khuynh hướng ăn gạo ngon nên giá gạo nhập cảng càng tăng. Họ có thể mua loại gạo có giá rẻ hơn như Calrose nhưng chẳng có ai mua cả! Hai bản tin nêu trên phản ảnh cái chóp 1/9 của tảng băng nổi trên mặt nước, và 8/9 tảng băng có vẻ như nằm sâu dưới nước nhưng thực sự tác động mạnh mẽ; người ta không nên nhầm lẫn qua hình thức bên ngoài. Đây chính là ý nghĩa của câu thành ngữ: Still waters run deep. Việc giá gạo tăng rõ rệt trong mấy tháng vừa qua chỉ là bước khởi đầu cho một triển vọng tăng giá liên tục trong tương lai - thực ra, giá gạo đã tăng tiệm tiến từ hơn một năm rồi. Hiện tượng tăng giá gạo tương tự như giá dầu hỏa: sức cầu, sức cung, và số tồn kho trên toàn cầu sẽ ấn định giá cả. Ngoài ra, các yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến diễn trình thành hình giá cả: tâm lý thị trường và người tiêu thụ, lên xuống giá trị đồng bạc, v.v. Một khái niệm cần lưu ý trước khi xét đến số lượng sản xuất, nhập cảng, xuất cảng và tồn kho gạo. Một nước có thể sản xuất 150 triệu tấn gạo/năm nhưng khả năng xuất cảng chỉ có 10 triệu tấn bởi vì phải giữ lại 140 triệu tấn cho dân trong nước ăn. Một nước có thể xuất cảng 50 triệu tấn nhưng đồng thời phải nhập cảng 20 triệu tấn bởi vì nhu cầu trong nước không cần loại gạo 50 triệu tấn; một số dân muốn ăn loại gạo 20 triệu tấn. Từ ngữ dự định (projected) sử dụng trong bài này chỉ là một cẩn thận trên lý thuyết- thực ra, hầu chắc thực tế sẽ xảy ra rất sát với dự định. Nguồn gốc của các dự định này xuất phát từ các thống kê, tóm lược, báo cáo của các cơ quan Economic Research Service, U.S. Department of Agriculture (USDA), National Agricultural Statistics Service (NASS) of the U.S. Department of Agriculture (USDA), Central Intelligence Agency (CIA), v.v. Sức cầu và nhập cảng gạo Tính theo vùng thì Nam Á Châu chiếm phần lớn trong sự gia tăng 900,000 tấn gạo nhập cảng trong năm 2008. Dự định vùng Nam Á Châu sẽ nhập cảng gần 1.2 triệu tấn trong năm 2008, tăng 28% so với năm 2007: -Bangladesh, nước nhập cảng lớn nhất vùng, dự định nhập cảng 800,000 tấn, tăng 150,000 tấn. Trong năm 2007/08 vụ mùa Aus (trồng trong tháng 3 và 4) bị ảnh hưởng lụt vào lúc gặt hái, trong khi vụ mùa kế tiếp là Aman cũng bị lụt liên tục khi trồng vào tháng 7 và 8. Vụ mùa thứ ba của Bangladesh - vụ mùa Boro - sẽ trồng vào tháng 12 và 1. -Afghanistan dự định tăng nhập cảng lên tới 250,000 tấn, tức tăng thêm 100,000 tấn. Dự định vùng Đông Á Châu sẽ nhập cảng 2.55 triệu tấn, tăng 215,000 tấn so với năm 2007: -Trung quốc dự định nhập cảng 700,000 tấn, tăng 100,000 tấn, trong đó phần lớn là loại gạo thơm hoa lài thượng hạng của Thái Lan. -Nhật Bản dự định nhập cảng 700,000 tấn, tăng 50,000 tấn. -Đài Loan dự định nhập cảng 166,000 tấn, tăng 65,000 tấn. -Nam Hàn dự định nhập cảng 265,000 tấn, không thay đổi so với năm 2007. Tất cả số nhập cảng của Nhật Bản, Nam Hàn, và Đài Loan được mua dựa trên các cam kết WTO. Số nhập cảng của Bắc Hàn dự định 400,000 tấn, không thay đổi so với năm 2007. Tất cả gạo mà Bắc Hàn nhập cảng đều do biếu tặng. Dự định vùng Đông Nam Á Châu sẽ nhập cảng 5.3 triệu tấn, giảm 300,000 tấn so với năm 2007: -Indonesia là lý do cho sự giảm nhập cảng. Ở mức nhập 1.6 triệu tấn, Indonesia đã nhập thấp hơn 300,000 so với năm 2007. -Dự định nhập cảng cho Malaysia giảm xuống 100,000 tấn, còn 700,000 tấn. -Trái lại, Philippines dự định tăng thêm 100,000 tấn nhập cảng thành ra 1.9 triệu tấn vì sức cầu tăng và vì thu hoạch sút kém. Dự định vùng Sub-Saharan Africa sẽ nhập cảng 7.64 triệu tấn trong năm 2008, tăng gần 2% so với năm 2007: -Nigeria dự định nhập cảng 1.7 triệu tấn, không thay đổi. -Nam Phi Châu tăng thêm 50,000 tấn thành 950,000 tấn -Senegal không thay đổi, vẫn giữ mức 800,000 tấn. -Cote D’Ivoire cũng giữ mức 750,000 tấn, và Ghana ở mức 450,000 tấn. Dự định vùng Trung Đông sẽ nhập cảng 4.3 triệu tấn, tăng 140,000 tấn trong năm 2008: -Iraq dự định nhập 1.1 triệu tấn, tăng 400,000 tấn. -Saudi Arabia dự định nhập 1.15 triệu tấn, tăng 50,000 tấn. -Saudi Arabia không sản xuất gạo. -Trái lại, Iran dự định giảm nhập cảng 300,000 tấn, chỉ nhập 900,000 tấn mà thôi. -Mặc dù vụ thu hoạch nhỏ nhưng Turkey dự định nhập cảng xuống còn 200,000 tấn, tức giảm 50,000 tấn. Latin America (Nam Mỹ, Trung Mỹ, Caribbean, và Mexico) dự định nhập cảng không tăng, không giảm, giữ ở mức 3.55 triệu tấn trong năm 2008. Cả Nam và Trung Mỹ dự định nhập ít hơn trong năm 2008. -Với số lượng 800,000 tấn, Brazil là khách mua lớn nhất trong vùng. Brazil vẫn nhập cảng bằng năm 2007. -Cuba dự định nhập cảng 700,000 tấn trong năm 2008, tức tăng 100,000 tấn so với năm 2007 do sức cầu tăng và do đình trệ sản xuất. -Trái lại, Haiti dự định giảm nhập cảng 50,000 tấn, chỉ còn nhập 300,000 tấn. Số nhập cảng của EU-27 dự định như năm 2007 là 1.1 triệu tấn. Oceania dự định nhập cảng 425,000 tấn trong năm 2008, tức tăng165,000 tấn. Australia là nguyên nhân cho các vụ tăng nhập cảng. Australia dự định nhập cảng 275,000 tấn trong năm 2008 do thu hoạch kém. Các nước thuộc Liên Bang Xô-Viết trước đây dự định nhập cảng 436,000 tấn, tức tăng 80,000 tấn, do Nga siết chặt nguồn cung ứng. Cuối cùng, dự định Mỹ nhập cảng 700,000 tấn, tức tăng 25,000 tấn so với năm 2007, hầu hết do sức cầu gạo thơm hoa lài thượng hạng của Thái Lan. Sức cung và xuất cảng gạo [Trong sáu quốc gia hàng đầu xuất cảng gạo - Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Mỹ, Pakistan, và Trung quốc - chỉ có Ấn Độ dự định sẽ xuất cảng ít gạo hơn so với năm 2007. Năm quốc gia còn lại được dự định sẽ gia tăng số gạo xuất cảng trong năm 2008. Thái Lan là nước xuất cảng gạo lớn nhất thế giới, dự định sản lượng là 18.4 triệu tấn, tức tăng dưới 1% xuất cảng. Số thu hoạch không thay đổi. Dự định Thái Lan xuất cảng 9 triệu tấn gạo trong năm 2008, tăng 500,000 tấn so với năm 2007. Mặc dù thế, xuất cảng của Thái Lan vẫn còn dưới 1 tấn so với năm 2007. Thái Lan xuất cảng loại nếp, và gạo hạt trắng dài có phẩm chất cao, trung bình và thấp, và loại gạo thơm hoa lài thượng hạng (premium jasmine rice). Việt Nam là nước xuất cảng gạo lớn hạng nhì thế giới, số thu hoạch trung bình vẫn như năm 2007. Với sản lượng 23.3 triệu tấn dự định trong năm 2008, mức sản xuất tăng gần 2% so với năm 2007. Dự định Việt Nam sẽ xuất cảng 5 triệu tấn gạo trong năm 2008, tăng 400,000 tấn so với năm 2007, nhưng ít hơn một chút so với năm 2005 (5.2 triệu tấn). Hầu hết gạo Việt Nam xuất cảng là loại hạt dài, đã xay, thuộc vào hạng có phẩm chất trung bình và kém, và là nhà cung cấp chánh cho Đông Nam Á và Cuba. Tuy nhiên Việt Nam đang cải thiện phẩm chất gạo xuất cảng và đã gia tăng số lượng xuất cảng loại gạo có phẩm chất cao. Mỹ xếp hàng thứ tư trong các nước xuất cảng gạo lớn nhất trên thế giới. Năm 2008, dự định Mỹ sẽ xuất cảng 3.4 triệu tấn gạo, tăng 100,000 tấn so với năm 2007, nhưng hãy còn dưới năm 2005 tới gần 3.9 triệu tấn. Mỹ xuất cảng loại gạo hạt dài, trung bình và ngắn, trong đó loại hạt dài chiếm 75%. Gần 1/3 gạo Mỹ xuất cảng là loại chưa xay trắng, và là nước duy nhất cho phép xuất cảng gạo chưa xay. Pakistan sẽ xuất cảng 3.2 triệu tấn trong năm 2008, tăng 200,000 tấn so với năm 2007, nhưng vẫn còn dưới năm 2006 khoảng 3.6 triệu tấn. Pakistan đã gia tăng sản xuất và xuất cảng trong các năm gần đây. Pakistan là nước Á Châu duy nhất mà gạo không phải là loại thực phẩm chánh yếu. Điều này giúp Pakistan xuất cảng hơn phân nửa số thu hoạch gạo hàng năm. Hầu hết gạo Pakistan xuất cảng là loại gạo xay trắng hạt dài, có phẩm chất kém, dành cho giới có lợi tức thấp, hầu hết ở vùng Đông Phi Châu. Pakistan cũng xuất cảng một ít gạo basmati loại thượng hạng cho EU-27 là chánh. Trung quốc là nước sản xuất gạo lớn nhất thế giới với sản lượng dự định là 129.5 triệu tấn, tăng hơn 1% so với năm 2007. Mặc dù vậy, sản lượng của Trung quốc rất thấp so với 140.5 triệu tấn vào năm 1997/98. Dự định Trung quốc sẽ xuất cảng 1.6 triệu tấn trong năm 2008, tức gia tăng 300,000 tấn do hậu quả của hạn hán ở Australia, của cải thiện canh tác và của tác động lệnh cấm xuất cảng vào đầu năm 2008 của Việt Nam và Ấn Độ. Mặc dù con số xuất cảng có tăng nhưng số xuất cảng của Trung quốc hãy còn thấp so với các năm 2004 và 2005. Trung quốc xuất cảng loại gạo hạt dài trung bình và ngắn, có phẩm chất cao, hầu hết xuất cảng qua Nhật Bản và Nam Hàn. Còn loại gạo hạt dài có phẩm chất kém thì xuất cảng qua Phi Châu và các thị trường dành cho giới có lợi tức thấp của Á Châu. Trái với các nước nêu trên, Ấn Độ được dự định sẽ giảm xuất cảng xuống 600,000 tấn, còn 3.4 triệu tấn trong năm 2008. Phần lớn con số giảm là do lệnh cấm ban hành vào ngày 9-10-2007 về việc xuất cảng gạo có giá dưới $425/tấn. Lệnh cấm này nhằm bảo đảm đủ số cung gạo cho thị trường trong nước và tái tồn kho. Tuy nhiên, người ta vẫn hy vọng Ấn Độ sẽ có thể tái xuất cảng gạo. Ấn Độ xuất cảng loại gạo thơm thượng hạng basmati (premium-priced basmati rice) cho các nước giàu, loại có phẩm chất trung bình cho các nước có lợi tức trung bình và loại gạo kém phẩm chất cho các nước chậm phát triển. Egypt dự định sẽ xuất cảng 1.1 triệu tấn trong năm 2008, hơn năm ngoái 100,000 tấn. Egypt hầu chắc đã vươn đến mức tối đa về xuất cảng bởi vì ruộng và mức thu hoạch đó là mức cao nhất có thể đạt. Dân số Egypt khá lớn và đang gia tăng. Chánh phủ Egypt phải bảo trợ hệ thống dẫn thủy nhập điền. Gạo xuất cảng của Egypt chỉ gồm có loại hạt trung bình và ngắn, phẩm chất cao. Australia, vốn từng là một nước xuất cảng gạo chánh yếu, được dự định xuất cảng chỉ có 40,000 tấn trong năm 2008, giảm xuống 200,000 tấn so với năm 2007, và là con số nhỏ nhất kể từ năm 1962. Australia xuất cảng hơn 500,000 tấn/năm trong thập niên 1990s. Tai họa hạn hán nghiêm trọng trong 4 năm vừa qua đã cắt đứt tiềm năng xuất cảng của Australia. Uruguay được dự định xuất cảng gần 800,000 tấn trong năm 2008, tăng 175,000 tấn so với năm 2007, nhờ vào sức cầu mạnh mẽ từ khách hàng chánh của Uruguay là Brazil. Argentina được dự định vẫn giữ mức xuất cảng 500,000 tấn trong năm 2008. Giống như Uruguay, Argentina có khách hàng chánh là Brazil. Guyana được dự định xuất cảng 180,000 tấn trong năm 2008, giảm 50,000 tấn so với năm 2007. EU-27 và Caribbean là hai thị trường chánh của gạo Guyana. Cambodia dự định sẽ xuất cảng 450,000 tấn, không thay đổi so với năm 2007. Đây là sản lượng xuất cảng lớn nhất của Cambodia kể từ thập niên 1960s. Burma dự định sẽ xuất cảng 50,000 tấn, chỉ cao hơn năm ngoái 10,000 tấn. Nhật Bản dự định sẽ xuất cảng 200,000 tấn, tất cả là thực phẩm viện trợ và không thay đổi so với năm 2007. Dự định Nam Hàn sẽ biếu tặng 150,000 tấn trong năm 2008, hầu hết cho Bắc Hàn. Sau hết, EU-27 dự định xuất cảng 150,000 tấn trong năm 2008, thực ra là không thay đổi so với năm ngoái. Ngoại trừ loại gạo phẩm chất cao Italian Arboria, EU-27 không mang tính chất cạnh tranh giá cả trên thị trường quốc tế. Hầu hết số xuất cảng của EU-27 là biếu tặng, hoặc được tài trợ. Mức tồn kho gạo Dự định Trung quốc và Ấn Độ sẽ chiếm một tỷ lệ lớn tiêu thụ gạo trong nước vào năm 2007/98. Ngoài ra, mức tiêu thụ gạo trong nước của Indonesia, Philippines, Bangladesh, Burma, Nigeria, Iran, và Egypt cũng sẽ tăng. Trái lại, dự định mức tiêu thụ gạo trong nước của Nhật Bản, Nam Hàn, và Đài Loan sẽ giảm do khuynh hướng thay đổi loại thực phẩm ăn uống. Trong khi mức tiêu thụ gạo trong nước vượt quá mức sản xuất 3.1 triệu tấn vào năm 2007/08, tồn kho gạo toàn cầu được dự định giảm 4%, tức 74.1 triệu tấn là mức thấp nhất kể từ năm 1983/84. Trung quốc, Indonesia, và Mỹ là nguyên nhân chánh làm giảm số tồn kho toàn cầu. Tồn kho cũng dự định sẽ giảm ở Ấn Độ, Philippines, và Thái Lan. Tồn kho toàn cầu giảm gần 50% kể từ năm 2000/01 (147.3 triệu tấn). Trung quốc là lý do chánh gây giảm xuống kể từ năm 2000/01. Tồn kho của Trung quốc giảm từ con số ước tính 97.4 triệu tấn vào năm 1999/2000, xuống còn 35.6 triệu tấn dự định cho năm 20007/08. Phần lớn số giảm là do chánh sách giảm bớt số tồn kho vượt quá mức cần thiết của Chánh Phủ. Vào ngày 27-11-2007, giá gạo toàn cầu cho gạo hạt dài có phẩm chất cao tăng hơn 16% so với tháng 11-2006. Giá gạo toàn cầu đã gia tăng trong suốt sáu năm, hầu hết do sự giảm tồn kho và sức cầu tăng mạnh. Hậu thuẫn cho việc tăng giá gạo gần đây là do các lệnh cấm xuất cảng vào mùa Thu 2007 của Việt Nam và Ấn Độ, sự lên giá của đồng baht Thái Lan, sự sụt giá của đồng đô-la Mỹ, và khuynh hướng vật giá leo thang nói chung. Vào ngày 27-11-2007, giá gạo Thái Lan, hạng B (FOB vessel, Bangkok) là $361/tấn, tăng 8% kể từ tháng 7-2007. Mức giá này có thể đã lên cao hơn nếu như chánh phủ Thaói Lan không giải tỏa khoảng một triệu tấn được mua dưới chương trình điều tiết áp dụng cho các vụ thu hoạch năm 2004/05-2006/ 07. Vào giữa tháng 9-2007, chánh phủ Việt Nam ban hành lệnh cấm bán gạo bởi vì số xuất cảng vượt quá số đã cam kết. Thị trường chờ đón Việt Nam sẽ bán gạo khi mùa gặt hái vào vụ Đông-Xuân bắt đầu trong tháng 3-2008. Tương tự, Ấn Độ thông báo mức giá tối thiểu cho gạo xuất cảng, xóa sạch các vụ xuất cảng ngoại trừ loại gạo thượng hạng basmati. Ấn Độ được mong đợi sẽ tái xuất cảng các loại gạo không phải loại basmati vào sáu tháng đầu năm 2008. Lệnh cấm bán gạo nhằm bảo đảm đủ lượng gạo cho thị trường nội địa và tái lập mức tồn kho. Kết luận Qua lịch sử, gạo là một loại thực phẩm quan trọng nhất cho loài người; hai phần ba dân số trên thế giới ăn gạo. Gạo có ít hoặc không có chất béo, không có cholesterol, rất ít chất muối và có đủ tám chất tối cần thiết amino acids. Gạo cũng là nguồn sinh tố B-complex và các chất khoáng tối cần thiết. Gạo quan trọng gần như một loại hàng chiến lược nhưng lại là loại hàng dễ bị dìm giá và bạc đãi nhất! Không có phương tiện sinh sống nào mà bị nghèo khổ, thiệt thòi, vất vả nhất như nghề nông. Vì thế, hiện tượng nông dân bỏ nghề, chuyển qua các khu vực kinh tế khác là phổ biến. Tại Trung quốc và Việt Nam, vốn là xứ nông nghiệp nhưng ngày nay, tỷ lệ lực lượng lao động trong các khu vực kinh tế đã thay đổi, người ta ngày càng đổ vào khu vực kỹ nghệ và dịch vụ. Theo thống kê của Central Intelligence Agency (CIA): Trung quốc: -dân số: ước tính 1,330,044,605 người vào tháng 7-2008. -lực lượng lao động: 43% nông nghiệp, 25% kỹ nghệ và 32% dịch vụ (ước tính 2006) Việt Nam: -dân số: ước tính 86,116,559 người vào tháng 7-2008. -lực lượng lao động: 55.6% nông nghiệp, 18.9% kỹ nghệ và 25.5% dịch vụ (7-2005) So với các nước khác: Ấn Độ: -dân số: ước tính 1,147,995,898 người vào tháng 7-2008. -lực lượng lao động: 60% nông nghiệp, 12% kỹ nghệ và 28% dịch vụ (ước tính 2003) Thái Lan: -dân số: ước tính 65,493,298 người vào tháng 7-2008. Ghi chú: ước tính này đã bao gồm tử suất quá cao do bệnh AIDS; điều này có thể làm tỷ lệ cho khoảng thời gian sống thấp xuống, tỷ lệ trẻ em chết lên cao, tử suất nói chung là cao, tỷ lệ sinh sản thấp xuống. -lực lượng lao động: 49% nông nghiệp, 14% kỹ nghệ và 37% dịch vụ (ước tính 2000) Việt Nam có hai vựa lúa: đồng bằng sông Hồng (mỗi năm làm hai vụ: vụ chiêm và vụ mùa) và đồng bằng sông Cửu Long (mỗi năm làm ba vụ: vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu, và vụ ba). Nếu biết tận dụng khoa học, kỹ thuật làm ruộng của Mỹ và khôn khéo áp dụng các vấn đề tư bản cho nông dân thì sản lượng có thể tăng gấp bội lần hiện tại. Mỹ sản xuất gạo đã hơn 300 năm. Các tiểu bang chánh sản xuất gạo tại Mỹ là: Arkansas, California, Louisiana, Texas, Mississippi, and Missouri. Tại Mỹ, gạo sản xuất gồm có đủ loại: hạt dài, trung bình và ngắn, gạo thơm. Giá gạo xuất cảng của Mỹ đã gia tăng kể từ đầu năm 2007/08, trước hết là do giá gạo toàn cầu tăng cao hơn. Hơn 86% gạo tiêu thụ trong nước Mỹ được sản xuất từ trong nước, và còn có dư để xuất cảng, chiếm khoảng 14% thị trường gạo quốc tế. Sự kiện này cho thấy hầu hết các nước sản xuất gạo đã tiêu thụ phần lớn sản lượng gạo cho chính nước họ, và chỉ còn rất ít gạo để xuất cảng. Gạo Mỹ được xuất cảng qua hơn 100 nước, nhiều nhất là xuất cảng qua Mexico, Nhật Bản, Haiti, Canada, Cuba, Brazil, Philippines, Costa Rica, United Kingdom, Honduras. Việc làm ruộng ở Mỹ đã trở nên một khoa học chánh xác, một thế giới của trang thiết bị đặc biệt như máy bay rải phân bón, hệ thống hướng dẫn bằng tia Laser để điều tiết lượng nước, và các phương tiện cơ giới và điện toán khác. Thời buổi trâu bò kéo cày đã qua rất lâu rồi. Nông dân Mỹ không lệ thuộc vào giống lúa hay phải trồng theo mùa. Khi lúa chín, việc gặt lúa, đập lúa, phơi khô, chuyên chở tới nhà máy xay, v.v. hoàn toàn làm bằng máy móc. Các cải thiện kỹ thuật đã giúp việc sản xuất gạo của Mỹ trở nên hiệu quả nhất và tân tiến nhất trên thế giới. Kỹ thuật và cơ giới hóa giúp nông dân Mỹ giảm thời gian lao động xuống còn 7 giờ lao động (man-hours) cho mỗi một mẫu ruộng. Vài nước Á châu vẫn còn cần tới 300 giờ lao động cho mỗi một mẫu ruộng. Tốn nhiều giờ lao động để làm ruộng là một vấn đề lớn cho các nước kém phát triển. Khi lúa chín, các cánh đồng ngập nước được dùng như các ao giữ nước nhằm ngăn ngừa đất bị xoi mòn bởi nước mưa hay bị cuốn trôi đi. Cách nay 30 năm, nông dân Mỹ đã sử dụng một hệ thống dẫn thủy, nhập điền tái lưu thông và các vòi khóa nước tự động (recirculating irrigation systems and automated shutoff valves) để lưu giữ tới 2/3 lượng nước. Kỹ thuật tân tiến đã giúp kỹ nghệ gạo của Mỹ giữ vững mức sản xuất rất cao. Với đặc điểm của chế độ trung ương tập quyền hiện nay, việc cải tổ toàn bộ ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ rất dễ dàng và có nhiều hy vọng thành công mỹ mãn, trong đó cần nghiên cứu trường hợp Trung quốc. Từ năm 1978, chánh phủ Trung quốc đã tiến hành cải tổ toàn bộ kinh tế, từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung của Liên Bang Xô Viết qua nền kinh tế mà họ gọi là nền kinh tế hướng thị trường xã hội chủ nghĩa có sắc thái riêng của Trung quốc (具有中國特色的社會 主義市場經濟 cụ hữu Trung quốc đặc sắc đích xã hội chủ nghĩa thị trường kinh tế). Trung quốc đã học được rằng chế độ hợp tác xã nông nghiệp chỉ là một sản phẩm hư ảo trong trí tưởng tượng. Việt Nam cũng đã thấy thất bại ê chề của chế độ này trong năm năm cuối thập niên 1970s. Phải có thể xóa hẳn các cái gọi là kinh nghiệm làm ruộng hàng ngàn năm nay để học hỏi và áp dụng các tiến bộ của thế giới. Thực chất của việc làm ruộng chỉ là kiến thức khoa học, kỹ thuật hóa học, cơ giới và điện toán về cày bừa vỡ đất, hạt giống, phân bón, biết trước nắng mưa, dẫn thủy nhập điền, chống xoi mòn đất (soil erosion), rải phân, tưới nước trên những cánh đồng mà cò bay chẳng những thẳng cánh mà phải gãy cánh. Ngoài ra, các định chế có tính chất hỗ trợ như: ngân hàng, thống kê, v.v. cũng phải tiến theo. Ca dao Viêt Nam có câu: Người ta đi cấy lấy công, Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề. Trông trời, trông nước, trông mây, Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm, Trông sao chân cứng, đá mềm, Trời trong bể lặng mới yên tấm lòng. Giấc mơ của tôi là nông dân Việt Nam không bao giờ phải trông như trên, ngược lại, họ thấy chuyện nắng mưa đã có vệ tinh thời tiết lo rồi và chân của họ phải mềm, đứng trong bóng mát bật nút điều khiển nước tưới ruộng. California, 4/25/2008 Phạm Văn Bân Phụ bản: Vì gạo là một loại thực phẩm chánh yếu (a staple food) nên không có gì ngạc nhiên khi các dân tộc ăn gạo có nhiều huyền thoại, thành ngữ, ca dao, điển tích lưu truyền từ đời này qua đời kia. Tại Nhật, người ta tin rằng vo gạo cho ướt trước khi nấu sẽ giúp giải tỏa sinh lực và khiến người ăn thêm sức mạnh tinh thần. Họ quý ruộng lúa nên đôi khi đặt tên cho từng thửa ruộng, giống như tên của một người vậy. Tại Ấn Độ, gạo là món thực phẩm đầu tiên mà cô dâu kính mời chú rể. Gạo cũng là món ăn đầu tiên cho trẻ em mới sinh. Tại Indonesia, con gái chưa được lấy chồng nếu chưa biết nấu cơm. Vựa lúa được coi là chốn thiêng liêng nên thường chạm trổ và trang hoàng đẹp đẽ. Tục ấn định chỉ có đàn bà mới được đi vào vựa gạo và chỉ được vào một lần trong một ngày. Nếu có khách đột ngột đến thăm, cần lấy gạo nấu cơm đãi khách thì người đàn bà phải bắc thang qua vựa để múc gạo, ý là không để cho thần linh trong vựa biết rằng người đàn bà đó đã đến vựa hai lần trong một ngày. Tại Trung quốc, Cambodge, Thái Lan, người ta có tục ném gạo khi đưa tang để chúc người chết có gạo ăn hoặc ném gạo vào cô dâu, chú rể để chúc đông con, sung túc, thừa thãi. Thành ngữ: gạo muối ném theo. Câu chào hỏi phổ thông của người Trung quốc là "Bạn ăn cơm chưa?" Họ hay nói, "Một bữa ăn không có cơm giống như một giai nhân độc nhãn." Bé gái cũng được dạy rằng cứ mỗi hạt cơm bỏ sót trong chén sẽ là một vết thẹo trên mặt của chồng em. Bỏ việc làm hay mất việc thì gọi là "bể chén cơm hay bể nồi cơm." Ở Trung quốc, một xúc phạm nặng nề nhất, "chết người" nhất khi lấy chén cơm của một người và đổ chén cơm đó xuống đất. Vào ngày Tết, họ cúng vài chén cơm cho tổ tiên. Phần lớn các tục Trung quốc truyền qua Việt Nam; và người Việt vẫn duy trì đến ngày nay. Dưới đây là vài thành ngữ Việt Nam: -gạo châu, củi quế: gạo quý như ngọc, củi quý như quế, chỉ tình hình sinh sống khó khăn. -gạo trắng, nước trong: chỉ điều kiện thiên nhiên ưu đãi, dễ dàng. -gạo chợ, nước sông: chỉ cảnh sống bấp bênh, ăn đong từng bữa -gạo thiếu, cơm thừa: chỉ tình trạng bừa bãi, không chừng mực -gạo đã nấu thành cơm: chỉ tình trạng đã rồi, không còn gì để nói. -chạy gạo từng bữa. Ca dao: Rủ nhau đi cấy, đi cầy, Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu. Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa |
|
The administrator has disabled public write access.
|
- Page:
- 1

